Krishnamurti -
Chất Vấn Krishnamurti
"Trước khi bắt đầu cuộc thảo luận, ta nên làm rõ ta hiểu thế nào là thảo luận. Theo tôi, thảo luận là khám phá bằng hành động phơi mở lòng mình trước sự kiện. Tức là, trong thảo luận, tôi khám phá chính tôi, khám phá tập quán tư tưởng của tôi, cách thế tôi tiến hành tư tưởng, tôi phản ứng, tôi lý luận, chẳng những trên bình diện tri thức mà cả trong sâu nội tâm nữa... Tôi cảm nhận rằng nếu ta có thể nghiêm túc khám phá như thế trong một giờ hay hơn và tìm hiểu, đào bới, nếu có thể, càng sâu càng tốt vào chính mình, ta mới có thể giải phóng, không phải bằng ý chí, một thứ năng lượng luôn luôn tỉnh thức, siêu thoát khỏi tư tưởng."
New Deilhi, 08-01-1961
"Chúng ta là những con người, không phải là những nhãn hiệu."
Colombo, 13-01-1957
"Krishnamurti là một trong những triết gia vĩ đại nhất của thời đại."
Dalai Lama, Madras 1995
"Nếu thế giới tận thế, những ai quan tâm đến điều Krishnamurti quan tâm, tôi nghĩ tình thế có thể thay đổi."
Iris Murdoch
"Tinh túy của thái độ tiếp cận khoa học, trong hình thái cao tột và thuần khiết nhất, đã thấm đượm trong toàn bộ việc làm của Krishnamurti."
David Bohm FRS
"Tôi cảm thấy ý nghĩa của Krishnamurti trong thời đại của chúng ta là tự ta phải suy nghĩ lấy chứ không để bị ảnh hưởng bởi bất kỳ tôn giáo nào bên ngoài hay bởi bất kỳ uy lực tinh thần nào."
Van Mornson
TẢI SÁCH : BẢN PDF
CHÂN LÝ VÀ THỰC TẠI
Trong phần một, một loạt cuộc thảo luận diễn ra giữa Krishnamurti và David Bohm, Giáo sư về vật lý lý thuyết tại Đại học Luân Đôn.
Phần hai, là bản tường trình trung thực các buổi nói chuyện và đối thoại tại Brockwood Park đã diễn ra trong mùa thu 1975.
Các câu hỏi và giải đáp trong phần 3 được trích từ các buổi nói chuyện ở Seanen vào năm 1975 và 1976.
“Mối quan hệ giữa Chân lý và Hiện thực là gì? Hiện thực, như ta đã nói, là mọi sự vật đã do tư tưởng kết hợp hình thành. Hiện thực nghĩa là, nghĩa gốc của từ này, là vật hay những sự vật. Và sống trong thế giới sự vật, tức hiện thực, ta muốn thiết lập mối quan hệ với thế giới không sự vật - việc làm này là không thể”.
“Thực tại nghĩa là ‘cái đang là’... Bạn có giáp mặt ngay trong chính bạn cái gì đó thực sự đang diễn ra... Bạn không nắm dược thực tại và nhìn nó.”
“Con người qua các thời đại đều đã quan tâm khám phá hay sống trong Chân lý”.
Phần hai, là bản tường trình trung thực các buổi nói chuyện và đối thoại tại Brockwood Park đã diễn ra trong mùa thu 1975.
Các câu hỏi và giải đáp trong phần 3 được trích từ các buổi nói chuyện ở Seanen vào năm 1975 và 1976.
“Mối quan hệ giữa Chân lý và Hiện thực là gì? Hiện thực, như ta đã nói, là mọi sự vật đã do tư tưởng kết hợp hình thành. Hiện thực nghĩa là, nghĩa gốc của từ này, là vật hay những sự vật. Và sống trong thế giới sự vật, tức hiện thực, ta muốn thiết lập mối quan hệ với thế giới không sự vật - việc làm này là không thể”.
“Thực tại nghĩa là ‘cái đang là’... Bạn có giáp mặt ngay trong chính bạn cái gì đó thực sự đang diễn ra... Bạn không nắm dược thực tại và nhìn nó.”
“Con người qua các thời đại đều đã quan tâm khám phá hay sống trong Chân lý”.
TẢI SÁCH : BẢN PDF
CÂU CHUYỆN TRIẾT HỌC
Câu Chuyện Triết Học
Đây là một cuốn sách mà ở đó, người ít quan tâm tới sách vở nhất cũng có thể tìm được cho mình một câu danh ngôn, một phương châm sống. Tuy nhiên, nếu chỉ có như vậy thì cuốn sách này đã không được xuất bản, Bryan Magee, với sự sâu sắc trong cách nhìn và sự giản dị trong cách viết, đã vẽ ra được một lối vào triết học Phương Tây. Bởi nói như J.G.Fichte “loại triết học mà mỗi người chọn lựa là tùy thuộc vào cá tính của người đó”, nghĩa là, triết học là chuyện của cá nhân - của tự do mỗi người. Hiểu biết triết học là hiểu biết về con người, về tự do và những giới hạn của nó. Và “Công việc của triết học không phải là đưa ra những luật lệ, mà là phân tích những phán đoán riêng tư của lý trí phổ biến”.

Câu Chuyện Triết Học là câu chuyện về sự học tập trao đổi không ngừng; vì thế mà nó phù hợp với rất nhiều đối tượng độc giả khác nhau. Nội dung sách gồm các phần:
- Người Hy Lạp và vũ trụ của họ.
- Cơ đốc giáo và triết học.
- Nguồn gốc của khoa học hiện đại.
- Các nhà duy lý vĩ đại.
- Các nhà kinh nghiệm luận vĩ đại.
- Những nhà tư tưởng cách mạng người Pháp.
- Một thế kỷ hoàng kim của triết học Đức.
- Dân chủ và triết học.
- Triết học thế kỷ 20.
TẢI SÁCH : BẢN PDF
CÁC VĨ NHÂN TỈNH LẺ
"Đôi khi, người ta đi hết cuộc sống của mình một cách mù lòa, hệt như những con ngựa bị thắng cương, hai bên mắt là hai mảnh lá đề che chắn. Vì vũ trụ chỉ còn hiện lên trước mắt những con ngựa ấy như một khe hở nhỏ hẹp, nên chúng cứ theo con đường đã vạch mà đi, không hề biết rằng mặt đất còn có núi non, sông hồ, những đồng cỏ và những bờ bãi. Những con ngựa không có khả năng tự tháo dỡ hai mảnh lá đề che mắt chúng. Còn con người, tại sao họ lại tự tiêu diệt quyền năng ấy. ( ... ), tôi không muốn nhìn thấy ai đó đi hết cuộc đời mình mù lòa như những con ngựa bị che hai bên mắt, cho dù hai cái lá đề ấy là sự ngu đần lười nhác, là ách thống trị của danh vọng hay tình yêu ..."
TẢI SÁCH : BẢN PDF
BUỒN NÔN
Buồn Nôn là một lý thuyết hiện sinh hay Buồn Nôn là một tiểu thuyết hư cấu của Sartre ? Cái hay của tác giả là biến truyện thành lý thuyết một cách sâu xa, với một hình thức trình diễn mới lạ, một trạng thái tâm linh đa dạng. Truyện cũng chẳng phải là tự truyện và chẳng phải là hồi ký...mà là tiểu-thuyết-nhật-ký, nghe lạ nhưng đọc kỷ những lý lẽ trong truyện ít nhiều cho ta thấy được tính nhân bản của nó, mà trong chúng ta dường như đã có một cái nhìn hiện sinh của một bản thể tự tại, mà đôi lúc xẩy ra trong đời làm người, vốn mang thân phận xót xa và đau khổ.
* * *
Sartre đã đưa nhân vật Antoine Roquentin vào tác phẩm Buồn Nôn (La Nausée/The Nausea) như một "người hùng"; một nhân vật được xem là mẫu người đàn ông lý tưởng, đứng trước mọi tình huống của cuộc đời đang sống. Nếu không được nhìn nhận như một cách sống mới thì đó chỉ là hình thức mẫu mực chẳng có gì khác hơn. Tuy nhiên những tác phẩm của Sartre vẫn được đời nhắc nhở đến cho tới ngày nay; dù rằng tác phẩm Buồn Nôn được xây dựng vừa hư cấu vừa hiện thực chứa đựng đường lối hiện sinh. Ở đây không nói đến nhân vật Roquentin như một con người hiện sinh "Existentialist man" hoặc xem Buồn Nôn là một tiểu thuyết hiện sinh "Existentialist novel" Nhưng điều chúng ta muốn nói là khám phá cái nguồn hiện sinh đó phát khởi từ đâu: Roquentin được dàn dựng như một hiện thể (being is) của hiện hữu (existence) một con người sống thực với một tâm-sinh-lý phi thường.
Những trang cuối của tập truyện, nói đúng ra là tập nhật ký, Sartre cố tình bỏ quên chúng ta mà qui về một chiều sâu khác của nội tâm hơn là mô tả. Sartre tự xem như chính mình trong đó và đó cũng là điều đem lại cho chúng ta một cái nhìn ý thức hợp lý và thích đáng. Tác giả coi tác phẩm của mình như một trang "thiết bị" cần thiết cho văn hóa, một xác định cụ thể đối với thái độ của chúng ta. Tuy không được trọn vẹn để nói lên được tính chất của một nền văn chương đương đại (contemporary literature) hay một tâm sinh lý khác mà không tránh khỏi sự đụng chạm về quan hệ những nhân vật trong truyện.
Roquentin chạm mặt với cây hạt dẻ, đó là một chạm trán mơ hồ tuy nhiên vẫn cho ta thấy được hình ảnh sắc bén của sự vật một cách cụ thể nhưng không để lại cái nhìn đích thực, mặc dù Roquentin đang ở trạng thái buồn chán. Vậy thì Roquentin đến với nỗi đau đầy tuyệt vọng chăng? Chúng ta hãy xem Roquentin có chịu đựng nỗi với một tâm thức như thế không, một tâm lý nội tại được diễn tả cách riêng...Chính vì thế mà đem lại sự tranh luận của tác phẩm Buồn Nôn qua bao thập niên: Đó là sự biệt lập giữa hiện hữu và hiện thực. Thí dụ: Nói về sự vật; chai thủy tinh Venetian (Ý) là một cái chai có khác gì đâu nhưng nó là hình tượng của sự vật, tất nhiên cho ta nhận được hiện thực của sự vật; tròn, nặng, trong bóng, sắc màu không hơn không kém của một hiện vật...Cho nên hiện hữu của sự vật là một cái gì rất đơn thuần, tuy nhiên nhận ra được một thực thể, là giới hạn của hiện hữu và tri nhận, đó là thể tính siêu việt của hiện sinh, biến cách thức hiện hữu "mode-of-being" để trở thành đối tượng của hiện sinh. Một thí dụ khác; về giới hạn cách biệt của Roquentin: nhân một ngày đi chơi trên biển, hắn nhặt trong tay viên đá cuội, mân mê trên tay, đột nhiên hắn khám phá ra được những gì đang hiện hữu, đó là hiện hữu sự vật làm cho hắn thoát khỏi cái cảm giác buồn nôn kỳ quái mà hắn phải đương đầu, đối diện với hiện hữu. Điều ấy không mong muốn đến với Antoine Roquentin; thực thể của viên đá cuội đã biến mất trong thực tại và hắn nhận ra một tâm thức trong suốt "see through" trong những điều xẩy ra.
Những tiến trình trong đời sống hằng ngày từ từ sẽ khám phá, tất cả những tính chất đó sẽ "bốc hơi" (évaporation) không còn lại gì, chỉ còn lại sự đương đầu, đối diện với hiện thực là cây hạt dẻ, viên đá cuội; đó là sự hiện diện có thực (reality) và chính cái thực đó làm giảm đi cái nguyên lý của hiện hữu: giữa sự buồn chán và nỗi sợ hãi. Chỉ còn lại một điều trong tôi (Antoine) nỗi đau khổ là hiện hữu và chẳng phải vướng tội, mọi sự được vượt qua, tương quan với hiện thể "Je sais seulement que la souffrance existe, qu’il n’y a pas de coupables, que tout s’enchaine, que tout passé et s’équilibre".
Chính vì quan điểm ấy; tác giả đã lập đi lập lại nhiều lần: Đó là sự ghê tởm của hiện hữu. Jaspers viết: "Cái điều vô lý đã tìm thấy trong cái tối nghĩa nơi mà chúng ta đang sống, trong thực tế của thực nghiệm hiện hữu vừa như có đó và vừa như không có đó" Tại sao gọi là không-có-đó ? Tại sao điều đó lại dành cho tất cả? Cái gì nhiều hơn? Không có gì hơn và không có gì kém hơn. Không thể biết được và cũng chẳng thiết yếu để tránh (éviter) được. Tout ou rien, nous passions au tout ou personne. Tất cả là không, chúng ta vượt qua được chẳng bỏ một ai. Ấy thì có trở nên ngu xuẩn hay là không hợp lý (non-rational). Sartre cho rằng chỉ có trí tuệ trả lời điều ấy. Sartre không buộc chúng ta phải trả lời hay đòi hỏi chúng ta một lý do nào hay một ý nghĩa nào khác. Điều được xác định cụ thể là tìm thấy được phần nào gốc rễ của cái gọi là vô nghĩa của hiện hữu (meaningless existence). Kết quả chỉ đem lại : Ngõ cụt và Buồn Nôn.
Trong nỗi đau đớn của Roquentin là giảm được cái điều không có, ngay cả ý thức buồn nôn cũng không có. Nó đã điền vào cái khoảng trống đó bằng một cái nhìn đầy hổn loạn. Có lẽ Sartre nhận ra được những kinh nghiệm mà Jaspers gọi là "chuẩn bị cho một sức bung phá mãnh liệt" (The preparing power of chaos) Dẫu sao sự đau khổ là một nhu cầu cần thiết cho sự khai mở và tái lập qua điều kiện của mình để chứng minh tâm lý học và triết thuyết hiện sinh; cái đó là chủ thuyết nhân bản L’existentialisme est un humanisme; điều ấy cũng được phát triển khoa tâm lý học, một tư tưởng của chủ nghĩa tự do, và trở nên đề tài chính của học thuyết Jean-Paul Sartre. Con người đi từ sự chán ghét, ghê tởm, một sự trống vắng của hiện sinh, tạo nên cái thể chất chính, qua sự chọn lựa mà Sartre cho đó là một cái gì phóng khoáng. Vì lẽ đó mà ông đã hiện hữu và không bao giờ nhìn sự thể như một điều tuyệt đối. Sartre luôn luôn hướng tới và dẫu có xẩy ra cái chết đột ngột chăng nữa, triết thuyết của ông sẽ không bao giờ chấm dứt được, cái mà được gọi là triết thuyết hiện sinh của Sartre. Triết gia Ái Nhĩ Lan Arland Ussher viết: "Cái khó khăn đáng kể nhất là hoàn tất những tác phẩm của họ, đó là sự thiết yếu -cho một triết thuyết, là được gần gũi với mọi sinh động của cuộc đời- điều mà không bao giờ hết được.
" Have a notable difficulty in finishing their books of necessity, for their philosophy-staying close to the movement of life- can have no finality".
Vậy thì điều gì đưa tới Buồn Nôn; điều đó tùy vào từng cá tính của người đọc. Một câu hỏi khác có phần khó hơn là giữa L’Etre et le Néan/Being and Nothingness/Hiện hữu và Hư vô mà Sartre cho đó là nỗi khổ và sự khinh tởm nó diễn ra như một thằng hề đủ để cho ta thấy một thứ mập mờ hết sức trừu tượng. Chúng ta biết rằng Jean-Paul Sartre một nhà tư tưởng triết học và cũng là nhà văn tuyệt mỹ về thể loại hư cấu hiện thực, một lối xây dựng đối thoại độc đáo, một chức năng đầy đủ mới dàn dựng một sân khấu đầy sắc thái. Ông là một con người bình dị, nhưng ông cũng không mấy hài lòng những điều ông đã làm như những nhà triết học khác. Sartre cho biết: "viết như giàn trải, như chuyện kể (folftale) như thần thoại, cổ tích với một văn phong của một "candide" thơ ngây, thật thà!"
Truyện Buồn Nôn không phải là một truyện đầy đủ như mọi truyện, mà nó ghép lại qua từng mảnh làm thành một. Mỗi bài có cái hay riêng, lan tỏa khắp nơi mà hầu như là những bài bình luận. Buồn Nôn đã cho chúng ta thấy được sự sáng tạo, kỷ thuật hành văn và nhất là sức trong sáng trong triết thuyết của Jean-Paul Sartre. Truyện đã đưa dẫn chúng ta đến gần với con người trong cùng hoàn cảnh, nơi mà chúng ta đang chiếm cứ. Allen Tate nói: " Đó là chức năng tối thượng của nghệ thuật".Supreme function of art.
The statue seemed to me unpleasant and stupid and I felt terribly, deeply bored. I couldn’t understand why I was in Indochina. What was I doing there? Why was I talking to this people?Why was I dressed so oddly? My passion dead...(The Nausea)
Đó là Buồn Nôn! Nỗi khát vọng chết trong tôi...
Điều ấy không phải là sự cớ để chúng ta phải đi tìm một năng lực toàn vẹn mà hãy xem như một điều hết sức tự nhiên, rõ ràng trong mọi dữ kiện tác phẩm tiểu thuyết của Sartre mà hãy coi đây là một thông điệp hoàn chỉnh với những yếu tố chính đáng dưới một cái nhìn tổng quan cho một tác phẩm được dựng lên trong thế giới ngày nay bởi Jean-Paul Sartre.
Những bài viết trong tập truyện được xoáy quanh một chủ đề buồn nôn, nỗi chán ngấy đó là thảm kịch mà Roquentin trực diện với cuộc đời đang sống, tất cả mọi tình huống được ghi lại như chứng tích dưới dạng thức nhật ký, đó là tiêu biểu đáng kể mà Sartre đã sống qua vai trò của Antoine Roquentin một cảm giác nhầy nhụa, oé mửa...
Nếu có ai hỏi tôi (Sartre) hiện hữu là gì? Tôi xin thưa rằng: "tất cả chẳng có gì hết, tất cả đều trống rỗng, mà tất cả điều đó chỉ một tấm lòng, một niềm tin chân chính- "in all good faith". Ấy là điều chẳng tạo nên được cảnh giới bên ngoài nếu không đem đến một hữu thể tuyệt đối, dần dần tất cả đều sáng tỏ. Sự hiện hữu được phát hiện. Chính vì vậy nó mất đi sự bất động để tìm thấy được sự mơ hồ một cách trừu tượng. Những điều đó đem lại sự tồi tệ. Chính đó là ngọn nguồn gắn liền với hiện hữu. Do đó những vật thể xung quanh mất dần và trở thành đa dạng, với tất cả cá tính đó chỉ tạo nên một thứ ảo giác, một thứ hào nhoáng giả tạo, buồn nôn. Cái giả tạo đó là những mảnh vụn hỗn độn, nhầy nhụa, trần truồng thật kinh khủng, một thứ dâm thư bẩn thỉu.Tất cả những đối tượng khách thể (objects) có thể đặt vào đó được không? Không; những thứ đó khuấy động ta! Mọi thứ dần dần xa lìa hẳn với hiện hữu trong một trạng thái dịu êm; giống như người đàn bà rơi vào hoàn cảnh đau khổ, một tâm linh bất ổn một cách tơi tả mà vẫn nói: "đời đã cho ta một nụ cười thoả mái" trong một tiếng nói đầy ẩm đục và che dấu một điều gì vừa kín đáo vừa đê hèn. Những sự thể như thế đã biến mất, để lại một hiện hữu bi đát.
Ngoài những lý lẽ của thuyết hiện sinh, được nẩy nở qua từng thế hệ, thiết tưởng điều ấy dừng lại nơi đây, cái dừng hợp lý và đúng lúc. Il faut savoir s’arrêter à temps! để người ta không rơi vào tuyệt vọng, bởi những dòng chảy của thuyết hiện sinh đã làm cho nhiều người suy tưởng mà làm lạc hướng chủ nghĩa hiện sinh, trong lúc những phân đoạn đó Sartre cố tình xây dựng lại có hệ thống trong từng cá tính của con người đang đối diện với Hư Vô (Néant/Nothingness) và những cái gọi không-thực-chất. Sartre nhìn triết thuyết hiện sinh như triết thuyết nhân bản. Lý thuyết nầy phải được sáng tỏ một cách cụ thể nghĩa là đương đầu và chấp nhận nỗi đau, buồnchán, tuyệt vọng như một chấp nhận hiện hữu.
Tóm lại triết thuyết hiện sinh được thăng hoa và đưa nền văn học Âu châu vào một kỷ nguyên mới. Ấy là điều sâu sắc mà chúng ta đang sống trong một xã hội rối loạn tâm thần, cần phải loại tận gốc rễ những hoàn cảnh nghịch lý đó; đừng để nó trở thành một thứ bi quan chủ nghĩa, một ảo giác mơ hồ, tràn ngập, chiếm cứ trong lúc chúng ta đang xây dựng một chủ thuyết hiện sinh.
Thử nhìn lại; nếu chủ nghĩa hiện sinh được thành hình và nở hoa ở thời kỳ của Graham Greene, André Malraux và Arthur Koestler thì những nhận thức của hiện hữu có phần thay đổi...Khởi thủy những nguồn sáng tạo hiện sinh như Dickens, Balzac và Pushkin là những người tiên phong và chủ xướng kể cả Kierkegaard và Nietzsche cả hai đều sống trong cùng một hoàn cảnh đã đưa ra những tư tưởng "mới" của hiện sinh nhưng thời đó những kẻ đứng bên lề đã phán xét, phê bình cho là đi xa với hiện thực; đó là thời bi thảm của lịch sử văn học. Dostoevski viết:" Đau khổ là nguồn phát sinh từ ý thức" Nhưng đau khổ là hiện diện trực tiếp trong mọi hoàn cảnh, không gian và thời gian, tư tưởng đó đem lại ý thức đau khổ. Chính vì thế mà Sartre đã viết lên được phần nào chủ thuyết của mình, dù là giản đơn. Sartre nói: "Bên cạnh cuộc đời như bắt đầu nỗi tuyệt vọng không cùng" Life begins on the other side of despair. Jean-Paul Sartre tin vào ngày mai hơn là hôm nay, ông cho rằng sự nghịch lý chính là niềm tin La mauvaise foi est foi (trong L’Etre et Néant).
Tiểu thuyết La Nausée được miêu tả một cách chi tiết, bên cạnh đó có cả L’Etre et Néant, L’Imaginaire, Vérité et Existence, Les Chemins De La Liberté I, II, III và Les Mains Sales đều nói lên tư tưởng hiện sinh của ông mà ông là chủ soái một tư tưởng, một lý thuyết quan trọng hơn hết. Khi triết thuyết nầy xuất hiện; ấy là điều như chúng ta tìm thấy được bản chất của nó từ những suy tư về sự vật dưới một cái nhìn khác biệt. Biến mơ hồ trừu tượng đến một thực thể rõ ràng, cụ thể không thể xóa mờ. Tự nó đã hiện hữu giữa thế giới hôm nay cũng như tất cả những điều mà ta nhận ra được. Nhân vật Roquentin vẫn còn đó, có nghĩa là vẫn còn tranh luận donner comme argument que; một cách khá đặc biệt cho một tiểu thuyết hư cấu của Sartre. Đấy chính là sự khám phá những siêu nhiên trong vũ trụ mà chúng ta đang sống và nắm giữ ?
Roquentin trong Buồn Nôn là một thân phận trầm thống, một tệ nạn xã hội cũng như chính bản thân của tác giả. Chúng ta không thể quả quyết mọi người sẽ hợp thông điều đó hoặc phải suy tưởng những điều như Sartre suy tưởng. Đúng như thế! bởi chúng ta không thể dựa vào những nguồn cơn đó để miêu tả một cái gì mơ hồ như một thứ siêu hình metaphysical mà chúng ta đã tìm thấy qua những từ ngữ, từng nhân vật trong tiểu thuyết của Jean-Paul Sartre. Nhưng ở đây thực tế là làm sao cho ngôn từ được sáng tỏ và hiệu ứng những gì đã chứa đựng cho dù rất ít chi tiết, hay bất luận nơi nào, khi mà chúng ta nhận ra được Hiện hữu và Hư vô thì lúc đó chúng ta nhận thức được những gì Roquentin đã thực hiện. Cái gì mà Antoine nhận thức được là có một đôi phần của bản thân mình trong cuộc sống giữa người và vật. Buồn Nôn là khởi thủy từ sự cảm nhận đích thực giữa nội quan và ngoại quan mà không để lại một dấu hiệu hay kinh nghiệm nào khác hơn. Đôi khi chúng ta phải tránh xa nỗi chán chường bởi những đắm chìm trong vật thể, trong ao ước mà điều đó nằm trong dự tưởng. Nhưng nếu buồn nôn không còn lắng đọng trong tâm tưởng thì chính là lúc chúng ta nhận thức cùng một lúc với thời gian hiện hữu; bởi buồn nôn ở đây là do nhận thức từ chúng ta mà ra hoặc đúng hơn do từ bản thể của ta mà ra, không có điều đó chắc chắn chúng ta không thể chìm đắm dưới bất cứ điều gì khác hơn.
Buồn Nôn là phó sản của sinh lý, một "cogito" của Decartes, đó là ý thức chìm lắng của bản thể; đưa tới một ý thức buồn nôn. Hữu thức không còn là sự chìm đắm của bản thể, điều đó đã xâm nhập một cách tình cờ, có thể không còn khả năng sáng suốt đối với hữu thể. Bản thể là một liên lạc trực tiếp với thế giới ngoại quan và cũng chìm đắm trong vũ trụ nội quan, giữa hai vị trí đó làm trung gian để vượt qua mọi sự chìm đắm của bản thể. Sartre viết: " Điều đặc biệt mà chúng ta phải ghi nhận rằng mỗi khi không còn đau đớn hay không đạt được yêu cầu mong muốn hoặc khước từ sự thỏa mãn thì đó là hiện hữu" Do đó nhận thức không ngưng nghỉ và tạo thành một sự sợ hãi bất tận, mà đó là phần tự có. Sartre nói tiếp: " Đây là những gì tôi đã miêu tả dưới bất cứ hoàn cảnh nào của tên gọi là "buồn nôn" This is what we have described elsewhere under the name of nausea. Một tâm thân u tối kéo theo với sự buồn đau điều đó không thể tránh được, mãi mãi bị ám ảnh, phát hiện được qua bản thể và ý thức.
Điều quan trọng được ghi nhận của Sartre; BUỒN NÔN không có nghĩa là thay hình đổi dạng để miêu tả về một thái độ của thế giới quan và không hẳn thái độ đề cao, điều cần thiết được nhắc nhở chúng ta về những cảm giác đó là những phương thức nắm bắt được, đó là những yếu tố cần thiết đã lắng chìm vào sự vật mà mình đang tiếp cận.
Jean-Paul Sartre (*) một triết gia, phê bình gia, tiểu thuyết gia và một kịch tác gia nắm một vị trí cao cả, ít ai có trong thế giới văn chương Pháp. Hầu hết những văn nhân, độc giả cũng như những nhà phê bình văn học đều nhận định về những tác phẩm của Sartre, đặc biệt La Nausée (Xb đầu tiên 1938) đã thu hút một số lượng khổng lồ về triết thuyết hiện sinh của Sartre như một tư tưởng mới và có một ý nghĩa quan trọng. Ngày nay La Nausée/Buồn Nôn không còn một ai chất vấn hay đặt vấn đề hoặc bình phẩm cho một tiểu thuyết có tính chất siêu lý như thế ở thế kỷ XX; một điều nên nhớ tiểu thuyết hư cấu Buồn Nôn là một tiểu thuyết mang tính hiện thực vừa đương đại vừa hiện thực cho một chủ nghĩa hiện sinh mà Sartre chủ xướng một cách trung thực và đầy sáng tạo giữa đời này.
Buồn Nôn là một câu chuyện hư cấu nhưng có thực và sống thực qua nhân vật Antoine Roquentin. Tác giả đã làm kinh ngạc người đọc về triết thuyết hiện sinh. Một tiểu thuyết đầy ấn tượng dưới một thể thức nhật ký mà ông đã diễn tả được cái sâu sắc nội tâm của con người, cái ray rứt, cái tàn nhẫn trong sự cảm nhận giữa thế giới với con người dường như xẩy ra quanh đời ông. Tư tưởng của Sartre đạt tới cực điểm và lan tỏa, vượt qua được sức mạnh của cảm giác, tức nỗi đau khổ không cùng của con người đứng trước hiện hữu; tất cả được thể hiện rộng rãi từ dưới thể tính bầy nhầy, nhão quẹt (vicous) trộn lẫn với loãng chất (puddle) của cái thời đầy rẫy bóng tối vây quanh và lan trải như vết dầu loang; những hiện tượng đó là cơ hội dành cho Sartre phát triển chủ nghĩa hiện sinh, mà nhân tố hiện sinh chính là nhân bản, là yếu tố tâm lý và sinh lý giữa hiện thể và hiện vật xẩy ra cùng một lúc.
Buồn Nôn không còn là hư cấu, nó trở nên một luận cứ triết học của học thuyết hiện sinh mà Jean-Paul Sartre là kẻ đưa đường. Tác phẩm Buồn Nôn của ông đã để lại hậu thế những giá trị tuyệt đối, vượt thời gian qua những án văn chương bất hủ, một phạm trù triết học đầy nhân tính trong thuyết hiện sinh của ông. Jean-Paul Sartre là nhân vật thời thượng qua mọi thời đại của nền văn học sử hiện đại.
TẢI SÁCH: BẢN PDF
BUỔI HOÀNG HÔN CỦA NHỮNG THẦN TƯỢNG
Hoàng hôn của những thần tượng là tác phẩm cuối cùng, tổng quát lại mọi tư tưởng triết học căn bản của Friedrich Nietzche. Cuốn sách được hoàn thành năm 1988, ban đầu có tên Làm cách nào triết lý với cây búa, sau đó được đổi lại, phỏng theo tên vở nhạc kịch “Hoàng hôn của những thần thánh” của Richard Wagner.
Thần tượng, với Nietzche là chân lý. Chân lý nào rồi cũng sụp đổ, cũng đến lúc bước vào hoàng hôn, lụi tàn và biến mất. Đó chính là tư tưởng triết học chủ đạo trong suốt cuộc đời nghiền ngẫm của Nietzche, cũng như trong tác phẩm này. Tất cả thực tại, quan điểm, lý tưởng, đều sẽ tiêu vong. Nhưng dòng chảy cuộc sống thì vẫn không ngừng, và sẽ chỉ đi theo chính bản năng, chỉ có bản năng là đẹp đẽ giữa mọi điều thối tha.
Để tiệm cận đến mục tiêu triết học cá nhân, Nietzche đi theo con đường phê bình những triết gia, những dòng tư tưởng cổ kim. Đó là những nhân vật lỗi lạc như: Socrate, Platon, Renan, Rousseau, Sainte – Beuve, G. Eliot, George Sand, Schopenhauer, Comte, Kant, Schiller, Zola, Victor Hugo, Listz, Carlyle; những giá trị xưa nay như: thiện ác, đẹp xấu, đúng sai, dân chủ, tiến bộ… Với một lối viết hàm súc, cách lập luận sâu sắc của thứ văn chương bác học, Hoàng hôn của những thần tượng đã khám phá mọi sự giả tạo trong các tư tưởng đó, quyết liệt và không nể nang. Chân thực, đó là những gì cần thiết nhất, đối với Nietzche. Chân thực gắn với bản năng, và vượt lên tất cả, bản năng đồng nghĩa với hạnh phúc.
TẢI SÁCH : BẢN PDF
BÊN THẮNG CUỘC
HUY ĐỨC
phần 1: GIẢI PHÓNG
Nói về Bên thắng cuộc
“Bên Thắng Cuộc của Huy Đức là quyển sách hay nhất về lịch sử Việt Nam sau 1975 mà tôi được biết, kể cả những công trình bằng ngoại ngữ của các học giả nước ngoài.”
Trần Hữu Dũng, giảng viên Kinh tế học tại Đại học Wright, Ohio, USA.
Bên Thắng Cuộc – Huy Đức – Quyển I: Giải phóng
“Cuốn sách này nói về những sự thật khốc liệt, nhưng vì rất trung thực nên nó khiến ta bình tĩnh hơn trong thế giới và giữa đất nước khốc liệt ngày nay.”
Nhà văn Nguyên Ngọc, Đại học Phan Chu Trinh, Hội An, Việt Nam.
“Bên Thắng Cuộc là tác phẩm ‘thực’ nhất, cho đến thời điểm này, ghi lại một giai đoạn lịch sử khốc liệt, thông qua tư liệu, của dân tộc từ biến cố 1975 đến nay.”
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, Nhật báo Người Việt, California, USA.
“Cuốn sách phân tích tình hình Việt Nam từ năm 1975 – của một nhà báo sinh ra và lớn lên trong chế độ cộng sản – một cách chuyên nghiệp và công bằng hiếm có. Nó là một kho tàng dữ liệu quý báu, có thể làm ngạc nhiên cả những chuyên viên theo dõi chính trị Việt Nam trong nhiều thập niên qua.”
Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason, Virginia, USA.
“Huy Đức viết công trình khảo cứu lịch sử đặc sắc này với lương tâm trong sáng và tay nghề lão luyện của một nhà báo chuyên nghiệp có trách nhiệm trước vận mệnh của đất nước. Có công minh lịch sử mới có hòa giải dân tộc thưc sự.”
Chu Hảo, Nhà Xuất bản Tri Thức, Hà Nội, Việt Nam.
PHẦN 2 : QUYỀN BÍNH

TẢI SÁCH TẠI ĐÂY :
PHẦN 1: BẢN PDF
PHẦN 2: BẢN PDF
HƯỚNG DẪN TẢI XEM NGAY
BERTRAND RUSSELL
CHIẾN SĨ TỰ DO VÀ HÒA BÌNH
Để mở đầu bộ tự truyện Autobiography (Georges Allen and Unwin Ltd, 1967) mà các nhà phê bình Âu Mĩ coi là một biến cố văn học của thế kỉ, quan trọng ngang với bộ Confessions (Tự thú) của Jean Jacques Rousseau, Bertrand Russell đã vạch những nét chính của đời mình như sau:
“Ba nhiệt tình bình thường nhưng không sao chống lại được đã điều khiển cuộc đời tôi: nhu cầu yêu mến, khát khao tìm hiểu, cảm giác day dứt gần như không chịu nổi vì những nỗi đau khổ của nhân loại. Những nhiệt tình đó như những ngọn cuồng phong thổi bật tôi, tôi lênh đênh trôi dạt trên một đại dương ưu tư phiền muộn mà đôi khi thấy mình đứng ngay sát bờ tuyệt vọng. “Tôi đã tìm tình yêu trước hết vì nó là niềm vui cực độ, một sự xuất thần mãnh liệt tới nỗi đã hơn một lần, chỉ mong được hưởng vài giờ thôi, tôi sẵn lòng tính hi sinh cả cuộc đời còn lại. Tôi đã tìm nó vì lẽ thứ nhì này nữa là nó giải thoát cho ta khỏi cảnh cô liêu, cái cô liêu ghê gớm làm cho phần hữu thức của ta run rẩy cúi xuống nhìn cái vực sâu thăm thẳm, lạnh buốt của phi thể (non-être). Sau cùng tôi tìm nó vì tôi thấy sự yêu nhau, kết hợp với nhau như là một sự biểu thị huyền bí của thiên đường ở cõi trần này, cảnh thiên đường mà các vị thánh và các thi sĩ đã mơ tưởng. Đó, tôi tìm kiếm cái đó và mặc dầu phước lớn đó cơ hồ không sao đạt được, rốt cuộc tôi đã gặp được.
“Tôi đã khao khát tìm hiểu với một nhiệt tình không kém vậy. Tôi đã muốn hiểu lòng người. Tôi đã muốn biết cái gì làm cho các vì tinh tú lấp lánh trên trời. Tôi đã rán hiểu thuyết Pythagore nó đặt ma lực của các con số lên trên sự chuyền biến của vũ trụ. Tôi đã thực hiện được một phần nhỏ, nhỏ xíu của những tham vọng ấy.
“Ái tình và sự hiểu biết mà tôi đạt được đã cất bổng tôi lên khỏi mặt đất. Nhưng lòng thương xót đã luôn luôn kéo tôi trở về mặt đất. Những tiếng gào khóc đau khổ vang dội trong thâm tâm tôi. Những trẻ em đói khát, những nạn nhân bị áp bức, tra tấn, những người già cả không được che chở, thành một gánh nặng ghê gớm cho con cái, cả một thế giới đau khổ, cô liêu như nhạo báng tàn nhẫn cuộc sống lí tưởng. Muốn kiểu chính cái xấu xa đó, tôi chỉ có cách phải đau khổ vì nó thôi.
TẢI SÁCH TẠI ĐÂY: BẢN PDF
hướng dẫn tải sách : xem ngay
Để mở đầu bộ tự truyện Autobiography (Georges Allen and Unwin Ltd, 1967) mà các nhà phê bình Âu Mĩ coi là một biến cố văn học của thế kỉ, quan trọng ngang với bộ Confessions (Tự thú) của Jean Jacques Rousseau, Bertrand Russell đã vạch những nét chính của đời mình như sau:
“Ba nhiệt tình bình thường nhưng không sao chống lại được đã điều khiển cuộc đời tôi: nhu cầu yêu mến, khát khao tìm hiểu, cảm giác day dứt gần như không chịu nổi vì những nỗi đau khổ của nhân loại. Những nhiệt tình đó như những ngọn cuồng phong thổi bật tôi, tôi lênh đênh trôi dạt trên một đại dương ưu tư phiền muộn mà đôi khi thấy mình đứng ngay sát bờ tuyệt vọng. “Tôi đã tìm tình yêu trước hết vì nó là niềm vui cực độ, một sự xuất thần mãnh liệt tới nỗi đã hơn một lần, chỉ mong được hưởng vài giờ thôi, tôi sẵn lòng tính hi sinh cả cuộc đời còn lại. Tôi đã tìm nó vì lẽ thứ nhì này nữa là nó giải thoát cho ta khỏi cảnh cô liêu, cái cô liêu ghê gớm làm cho phần hữu thức của ta run rẩy cúi xuống nhìn cái vực sâu thăm thẳm, lạnh buốt của phi thể (non-être). Sau cùng tôi tìm nó vì tôi thấy sự yêu nhau, kết hợp với nhau như là một sự biểu thị huyền bí của thiên đường ở cõi trần này, cảnh thiên đường mà các vị thánh và các thi sĩ đã mơ tưởng. Đó, tôi tìm kiếm cái đó và mặc dầu phước lớn đó cơ hồ không sao đạt được, rốt cuộc tôi đã gặp được.
“Tôi đã khao khát tìm hiểu với một nhiệt tình không kém vậy. Tôi đã muốn hiểu lòng người. Tôi đã muốn biết cái gì làm cho các vì tinh tú lấp lánh trên trời. Tôi đã rán hiểu thuyết Pythagore nó đặt ma lực của các con số lên trên sự chuyền biến của vũ trụ. Tôi đã thực hiện được một phần nhỏ, nhỏ xíu của những tham vọng ấy.
“Ái tình và sự hiểu biết mà tôi đạt được đã cất bổng tôi lên khỏi mặt đất. Nhưng lòng thương xót đã luôn luôn kéo tôi trở về mặt đất. Những tiếng gào khóc đau khổ vang dội trong thâm tâm tôi. Những trẻ em đói khát, những nạn nhân bị áp bức, tra tấn, những người già cả không được che chở, thành một gánh nặng ghê gớm cho con cái, cả một thế giới đau khổ, cô liêu như nhạo báng tàn nhẫn cuộc sống lí tưởng. Muốn kiểu chính cái xấu xa đó, tôi chỉ có cách phải đau khổ vì nó thôi.
TẢI SÁCH TẠI ĐÂY: BẢN PDF
hướng dẫn tải sách : xem ngay
VỀ ĐẤU TRANH
BẤT BẠO ĐỘNG
CHIẾN LƯỢC:
SUY NGHĨ VỀ NHỮNG
NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
TẢI SÁCH : BẢN PDF
HƯỚNG DẪN TẢI : XEM TẠI ĐÂY
CÁC BẠN BẤM VÀO NÚT PDF ĐỂ THẤY LINK TẢI:
ĐÁNH DẤU TIK VÀO Ô TÔI KHÔNG PHẢI NGƯỜI MÁY NHÉ:
CHỜ 3S BẤM VÀO GET LINK ĐỂ NHẬN LINK :
CÓ THỂ KHI CICK SẼ XUẤT HIỆN RA TRANG QUẢNG CÁO, ĐỪNG LO LẮNG LINK BẠN CẦN SẼ HIỆN RA TRONG LẦN CLICK TIẾP THEO.
BẠN CÓ THỂ ĐỌC TRỰC TIẾP HOẶC TẢI VỀ !
THANK FOR WATCHING!
BÀN VỀ TINH THẦN PHÁP LUẬT
Sau thời kỳ dài của “đêm trường Trung cổ”, nhu cầu về thiết lập một trật tự xã hội mới với nền tảng cơ bản là giải phóng con người, tôn trọng quyền tự do của con người đặt ra hết sức gay gắt... Các nhà tư tưởng khai sáng đã xuất hiện và các ông đã có những công trình triết học, văn học, pháp luật, xã hội học..., nhằm hướng tới xây dựng một xã hội “tự do, bình đẳng, bác ái”.
Montesquieu (1689 - 1755) và Rousseau (1712 - 1778) nổi lên với tư cách là hai nhà tư tưởng có những ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cách mạng tư sản Pháp nói riêng và nền văn minh thế giới nói chung. Hai tác phẩm: “Bàn về tinh thần pháp luật” (1748) của Montesquieu và “Bàn về khế ước xã hội” (1762) của Rousseau ra đời, trở thành bộ đôi tác phẩm có ý nghĩa khai sáng về quan điểm pháp chế, vạch ra định hướng xây dựng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền, mở đường cho tư duy xã hội Pháp đi tới cuộc đại cách mạng tư sản năm 1789. Nhiều quan điểm trong hai tác phẩm này đã trở thành những nguyên tắc pháp lý chi phối sâu sắc đến sự phát triển của nhà nước và pháp luật hiện đại.

Hai tác phẩm ra đời đúng vào thời điểm mà tư tưởng cách tân bị ngăn cản, cấm đoán bởi các thế lực phong kiến hủ bại và thần quyền đương thời. Nhưng các tác giả đã dũng cảm thể hiện thái độ và tinh thần xây dựng tích cực của mình trước hiện thực xã hội. “Bàn về tinh thần pháp luật” đã đề cập và lý giải hàng loạt vấn đề luật học cũng như các khoa học xã hội đương thời; phân tích so sánh các nội dung và bản chất của các thể chế chính trị khác nhau, chỉ ra nhiều điểm hạn chế và tích cực của từng thể chế; bàn về các yếu tố liên quan đến luật, cách soạn thảo luật và ứng dụng luật trong các lĩnh vực xã hội... “Bàn về khế ước xã hội” cũng đề cập những vấn đề nêu trên nhưng đi theo hướng tư duy hoàn toàn khác: Nếu như Montesquieu muốn khám phá cái “trật tự, cái quy luật trong mớ hỗn độn các luật pháp ở mọi xứ sở và mọi thời đại” thì Rousseau lại cố gắng tìm kiếm trong cái “trật tự dân sự có hay không một số quy tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết đối đãi với con người như con người”; nếu như Montesquieu dùng phương pháp quy nạp trên cơ sở khảo sát, phân tích đặc điểm từ tự nhiên đến xã hội và các chính thể để rút ra các nguyên tắc chi phối chúng, thì Rousseau đi từ những nguyên tắc chung để đưa ra những hình thức chính thể cần phải có. Vì vậy, Rousseau chỉ đề cập lịch sử chính trị của loài người một cách khái quát nhất, còn lại tập trung bàn đến vấn đề phải tổ chức lại xã hội như thế nào. Ông đưa ra những nguyên tắc thiết lập một xã hội lý tưởng bằng các khế ước - đó là những luật cơ bản như hiến pháp, luật dân sự, hình sự... mà mọi thành viên trong đó phải tự nguyện tuân theo. Những khế ước đó bảo đảm các quyền lợi của xã hội, của mỗi thành viên như sự tự do, bình đẳng, quyền tư hữu... Sau khi đưa ra những nguyên tắc ấy, Rousseau bàn đến các hình thức chính thể. Ông đề cao chính thể dân chủ - chính thể mà người dân có thể tham gia nhiều nhất vào các hoạt động điều hành của nhà nước, đặc biệt là trên lĩnh vực lập pháp. Do đó, bao trùm tác phẩm là tinh thần xây dựng nguyên tắc của chế độ mới.
Đã hơn 200 năm trôi qua kể từ khi ra đời, “Bàn về tinh thần pháp luật” và “Bàn về khế ước xã hội” không tránh khỏi có một số quan điểm bị lịch sử vượt qua. Song, những giá trị kinh điển của nó đến nay vẫn còn nguyên giá trị và các tác phẩm này được xếp vào hàng tinh hoa tư tưởng của nhân loại.
Độc giả Việt Nam đã rất quen thuộc với tên tuổi của Montesquieu và Rousseau nhưng trực tiếp tiếp xúc với di sản tư tưởng của các ông thì mới chỉ giới hạn ở một phạm vi rất hẹp. Công cuộc đổi mới trên đất nước ta hiện nay, đặc biệt là đổi mới chính trị, đổi mới pháp luật theo hướng xây dựng một xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang có những bước tiến đáng kể. Việc mở rộng nghiên cứu những tác phẩm kinh điển về lĩnh vực lập pháp là rất cần thiết đối với toàn thể mọi người quan tâm, đặc biệt là các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội cũng như cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền và đoàn thể. Hai tác phẩm: “Bàn về tinh thần pháp luật” và “Bàn về khế ước xã hội” (bản dịch của Hoàng Thanh Đạm) chính là những tư liệu quý phục vụ tốt cho nhu cầu đa dạng của các bạn
TẢI SÁCH : BẢN PDF
BÀI HỌC CHUYỂN ĐỔI Ở ĐÔNG ÂU
Bài học chuyển đổi ở Đông Âu János Kornai (Tuyển tập các tiểu luận) Nguyễn Quang A tuyển dịch Lời giới thiệu Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười sáu [1] của tủ sách SOS2, cuốn Bài học Chuyển đổi ở Đông Âu gồm 6 tiểu luận của Kornai János. Đây là cuốn sách thứ năm của Kornai trong tủ sách này và là cuốn thứ sáu của Kornai bằng tiếng Việt. Đây là các bài viết của Kornai đánh giá về chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, nêu những bài học có thể rút ra trong 15 năm phát triển vừa qua của khu vực này. Nhiều bài học của khu vực đó cũng rất bổ ích cho nền kinh tế chuyển đổi của chúng ta .
TẢI SÁCH TẠI ĐÂY: BẢN PDF
ẤP CHIẾN LƯỢC
TÌM HIỂU VỀ ẤP CHIẾN LƯỢC:
Có một số ngƣời cho rằng Chƣơng-Trình Ấp Chiến-Lƣợc
đã giúp chính-quyền Ngô Đình Diệm bình-định xứ-sở, triệt-tiêu
cộng-sản, đem lại đời sống an-bình cho dân-nhân Miền Nam
dƣới chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hòa; và “cha đẻ” của Chƣơng-Trình
đƣợc gọi là Quốc-Sách ấy chính là Cố-Vấn Ngô Đình Nhu (sic).
Theo họ thì sau cuộc Cách-Mạng 1-11-1963, vì Trung-
Tƣớng Dƣơng Văn Minh đã hủy bỏ quốc-sách Ấp Chiến-Lƣợc
nên cộng-sản mới có thể dễ-dàng lấn chiếm và đánh thắng Miền
Nam (sic).
Sự Thật là “Ấp Chiến-Lƣợc” bị hủy-bỏ bởi Sắc Luật số
103/SL/CT, do Thủ-Tƣớng Nguyễn Khánh ký ngày 9 tháng 3-
1964 (xem Tham-Chiếu 1).
Để các thế-hệ sau này hiểu biết chính-xác về thực-chất của
Chƣơng-Trình Ấp Chiến-Lƣợc, ta hãy tìm đọc các tài-liệu lịch-
sử ‒ mà các cá-nhân nói trên đã không biết đến, hoặc đã cố-ý
không đề-cập đến mà còn tự-ý thêm-thắt bịa-đặt ra ‒ hầu bắt
mọi ngƣời phải nghe những lời ca-tụng vu-vơ dựa trên những
điều không hề xảy ra.